Chủ Nhật 30 Thường NiênC

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Chủ Nhật 30 Thường Niên, Năm C

 

Bài đọc: Sir 35:12-14, 16-18; 2 Tim 4:6-8, 16-18; Lk 18:9-14.

1/ Bài đọc I: 12 Vì Đức Chúa là Đấng xét xử,
Người chẳng thiên vị ai.

13 Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn,
nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức.

14 Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người goá bụa.

16 Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây.

17 Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm.
Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa an lòng.

18 Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý.

2/ Bài đọc II: 6 Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi.

7 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin.

8 Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.

16 Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ.

17 Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng.

18 Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.

3/ Phúc Âm: 9 Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:

10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế.

11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.

12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.

13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.

14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Niềm tin và những thái độ cần có khi cầu nguyện với Thiên Chúa.

Làm thế nào để lời cầu nguyện của một người được Thiên Chúa đoái nhận là chủ đề của Lời Chúa tuần này. Trước khi cầu nguyện, con người phải có một số những hiểu biết căn bản để rồi có thái độ thích hợp khi cầu nguyện: Thiên Chúa là quan tòa không bao giờ thiên vị; mọi lời cầu xin sẽ được Thiên Chúa cứu xét; những gì Thiên Chúa hứa Ngài sẽ giữ lời; con người không bao giờ có thể tự mình trở nên công chính vì tất cả đều phạm tội; con người chỉ có thể công chính bằng đặt niềm tin nơi Thiên Chúa và cố gắng tuân giữ các điều Ngài truyền dạy.

Các bài đọc hôm nay dẫn chứng những hiểu biết căn bản này. Trong bài đọc I, tác giả Sách Huấn Ca mô tả Thiên Chúa là một quan tòa chí công vô tư. Ngài bênh vực quyền lợi cho kẻ bị áp bức, và nghe tiếng van nài của mẹ góa con côi. Trong bài đọc II, Phaolô biết trước những gì sẽ xảy ra cho ông trong những ngày cuối đời tại Rôma, ông sẽ bị bạn đồng hành bỏ rơi và bị ngược đãi bởi người Do-thái cũng như nhà cầm quyền; nhưng ông vẫn một niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, Ngài sẽ bảo vệ ông khỏi mọi nguy hiểm và đã sắm sẵn cho ông một triều thiên công chính trên trời. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu kể một câu truyện để nhắc nhở các môn đệ thái độ phải có khi cầu nguyện: đừng cậy dựa sức mình, đừng khinh thường tha nhân; nhưng phải biết cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa và khiêm nhường thú nhận tội lỗi của mình.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Thiên Chúa lắng nghe mọi lời nguyện xin.

1.1/ Thiên Chúa là Đấng xét xử chí công vô tư.

Không giống như các vua chúa hay những nhà lãnh đạo thế gian, họ thường xét xử theo tình cảm và lợi lộc vật chất; Thiên Chúa là quan tòa chỉ xét xử theo sự thật. Ngài không thiên vị ai, và cũng chẳng ai có thể mua chuộc Thiên Chúa.

Hơn nữa, vì tất cả mọi người đều là con cái của Ngài, nên Ngài tỏ lòng quan tâm đặc biệt đến những người cô thân cô thế. Tác giả Sách Huấn Ca liệt kê hai hạng người được Thiên Chúa quan tâm đặc biệt:

(1) Những người nghèo hèn bị đối xử bất công: “Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức.”

(2) Mẹ góa, con côi: Vì họ không có chồng hay không có cha, Thiên Chúa sẽ bảo vệ họ khỏi những kẻ lợi dụng: “Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người goá bụa.”

1.2/ Thiên Chúa cứu xét mọi lời cầu nguyện.

Nhiều người tự hỏi làm sao Thiên Chúa có thể nghe và cứu xét tất cả lời cầu nguyện của con người; nhất là của những người thấp mũi bé miệng; những người không có công trạng gì trước mặt Thiên Chúa? Nhiều lần chúng ta đã nói Thiên Chúa điều khiển vũ trụ bằng cách dùng các thiên thần. Họ là những sứ giả mang lời cầu nguyện của con người lên Thiên Chúa và chuyển những ơn lành từ Thiên Chúa xuống cho con người. Sứ thần Raphael đã củng cố điều này khi nói cho Tobia hiểu kế hoạch của Thiên Chúa cho gia đình ông.

Tác giả Sách Huấn Ca cũng xác nhận Thiên Chúa nghe tất cả lời cầu nguyện của con người và sẽ cứu xét từng trường hợp để có thể ban như lời con cái kêu xin. Khi một người luôn làm theo ý Thiên Chúa kêu xin, Ngài sẽ đáp lời họ: “Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây. Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm.”

Vì thế, thái độ con người cần có khi cầu nguyện là kiên trì tin tưởng lời cầu nguyện của mình sẽ được thiên thần mang lên trước thiên nhan Chúa. Ngài sẽ cứu xét từng trường hợp và sẽ ban như ý họ kêu xin.

2/ Bài đọc II: Giờ đây tôi chỉ còn đợi triều thiên dành cho người công chính.

2.1/ Phaolô hoàn toàn tin tưởng nơi sự quan phòng của Thiên Chúa.

Sau khi đã làm chứng cho Đức Kitô tại Jerusalem, Ngài đã hiện ra với ông trong một thị kiến ban đêm để an ủi và cho ông biết ông sẽ làm chứng cho Ngài tại Roma nữa; đồng thời Ngài cũng cho ông biết những gian nan nguy hiểm đang chờ ông tại Roma.

Phaolô viết thư này cho môn đệ Timothy khi ông đang bị giam trong tù tại Roma, với mục đích để khích lệ tinh thần cho Timothy sẵn sàng làm chứng cho Đức Kitô: “Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.”

Phaolô không cho là ông xứng đáng với triều thiên dành cho người công chính bằng những công việc ông làm; nhưng Phaolô muốn nhấn mạnh đến niềm tin trung thành nơi Đức Kitô. Ngài là Thẩm Phán Chí Công, Ngài là Đấng sẽ tuyên bố Phaolô là người công chính, và sẽ trao phần thưởng là triều thiên công chính cho ông.

Đoạn văn này là bằng chứng cho những người hiểu lầm học thuyết của Phaolô khi ông nói con người được công chính nhờ đặt niềm tin nơi Đức Kitô, mà không cần phải làm gì để chứng tỏ niềm tin. Phaolô chứng minh niềm tin của ông vào Thiên Chúa bằng việc hoàn tất sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại mà Đức Kitô đã trao cho ông, và giờ đây, ông còn sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho Tin Mừng ông rao giảng trên đất Rôma của Dân Ngoại.

2.2/ Phaolô có thể vượt qua mọi trở ngại là nhờ ông vững tin nơi Thiên Chúa.

Nhìn lại cuộc đời rao giảng Tin Mừng của Phaolô, chúng ta không khỏi ngạc nhiên về sự kiên trì phi thường của ông, khi phải đương đầu với những đau khổ bên trong cũng như bên ngoài, như trong trình thuật hôm nay, ông viết: “Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ.” Tuy phải chịu đau khổ như thế, nhưng ông đã noi gương Đức Kitô, chẳng những không trách cứ họ, mà còn cầu nguyện cho họ nữa.

Phaolô nhận ra sức mạnh để chịu đựng và sự thành công trong việc rao giảng Tin Mừng không đến từ con người yếu đuối của ông; nhưng nhờ ông đặt niềm tin trọn vẹn nơi Đức Kitô. Ông viết: “Có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.”

3/ Phúc Âm: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.

Trước hết, chúng ta cần chú ý: mục đích của Chúa Giêsu khi kể câu truyện này là muốn răn dạy những người tự cho mình là công chính và khinh chê người khác.

 

3.1/ Thái độ của người Pharisee:

(1) Tác phong của người Pharisee: Tác phong của một người nói lên rất nhiều về tính khí của người đó. Trình thuật kể ông đứng thẳng trước thiên nhan của Thiên Chúa, chứ không xấp mình đấm ngực như người thu thuế.

(2) Hai cách ông làm để đề cao mình: nói xấu người khác và nói tốt về mình. Ông nói xấu hay giảm giá trị của người khác khi ông cầu nguyện: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Cầu nguyện là lúc con người nói chuyện của mình với Thiên Chúa; chứ không phải là lúc để tố tội người khác. Có lẽ ông cám ơn Thiên Chúa đã cho ông sức mạnh để ông trở thành người quá tốt như thế; nhưng đó không phải là những gì Thiên Chúa muốn nghe. Ngài muốn ông nhận ra những khuyết điểm của mình, chứ không muốn ông luận tội người khác, vì đó không phải là việc của ông. Ông khoe thành tích của mình: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.” Việc khoe thành tích của ông chứng tỏ ông không biết Thiên Chúa là ai. Ngài biết tất cả việc ông làm và ý hướng bên trong của ông, Ngài không cần ông phải nhắc nhở. Việc ông đóng góp 10% cho Đền Thờ cũng chỉ là dâng lại những gì Thiên Chúa ban cho ông. Nếu để ý lời cầu nguyện của người Pharisee, chúng ta thấy ông không xin Thiên Chúa điều gì cả, ông chỉ tạ ơn Chúa; nói đúng hơn ông chỉ khoe thành tích của ông với Thiên Chúa.

3.2/ Thái độ của người thu thuế:

(1) Tác phong của người thu thuế: Ông đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

(2) Ông biết ông là người tội lỗi. Ông biết ông không có công trạng gì trước mặt Thiên Chúa. Ông hoàn toàn cậy dựa hoàn toàn vào lòng từ bi của Thiên Chúa.

3.3/ Kết quả của việc cầu nguyện: Chỉ có Thiên Chúa là Đấng nhận lời cầu nguyện của con người. Chúa Giêsu tuyên bố rõ ràng kết quả: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không.” Lý do được chấp nhận hay từ chối: “Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

Việc tuyên bố ai là công chính hoàn toàn là việc của Thiên Chúa, vì không ai là người không có tội. Con người được trở nên công chính là nhờ niềm tin vào Đức Kitô, Đấng đã gánh tội cho con người và hòa giải con người với Thiên Chúa. Thái độ tự cho mình là công chính gây ra rất nhiều nguy hiểm cho con người:

- Vì thấy mình quá tốt lành nên họ không cần tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Thời nào cũng có những loại người này: các Pharisees thời của Chúa Giêsu, Pelagism hay Semi-Pelagism thời của thánh Augustine. Thánh Gioan khuyên nhủ các môn đệ của Ngài: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta... Nếu chúng ta nói là chúng ta đã không phạm tội, thì chúng ta coi Người là kẻ nói dối, và lời của Người không ở trong chúng ta” (1 Jn 1:8-10).

- Họ không thấy có tội là vì chưa xét mình cẩn thận hay lương tâm đã quá chai đá đó thôi. Nếu chịu khó xét mình cẩn thận, họ sẽ nhận ra họ cũng là tội nhân như bao người khác.

- Khi thấy mình hoàn hảo, họ dễ khinh thường và xét đoán người khác. Tật xấu này gây cho họ nhiều bất an và phá hủy gia đình cũng như cộng đoàn của họ; vì họ luôn bắt những người chung quanh phải sống theo tiêu chuẩn của họ, những gì mà họ nghĩ là “hoàn hảo.”

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Lời cầu nguyện với lòng thành tín làm theo ý Thiên Chúa chắc chắn sẽ được Ngài nhậm lời. Không một lời cầu nguyện nào mà không được dâng lên trước tôn nhan Thiên Chúa.

- Chúng ta phải sẵn sàng đương đầu với mọi gian nan trong cuộc đời để làm chứng cho Thiên Chúa. Ngài sẽ bảo vệ và cung cấp cho chúng ta sức mạnh cần thiết để vượt qua.

- Chúng ta cần phải có thái độ khiêm nhường khi cầu nguyện: nhận mình là người tội lỗi và trông chờ ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Thứ Bảy Tuần 29 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Bảy Tuần 29 TN, Năm lẻ

Bài đọc: Rom 8:1-11; Lk 13:1-9.

1/ Bài đọc I: 1 Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa.

2 Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết.

3 Điều mà Lề Luật không thể làm được, vì bị tính xác thịt làm cho ra suy yếu, thì Thiên Chúa đã làm: khi sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội chúng ta, Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình.

4 Thiên Chúa làm như vậy, để sự công chính mà Luật đòi hỏi được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta, là những người không sống theo tính xác thịt, nhưng theo Thần Khí.

5 Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí.

6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.

7 Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được.

8 Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. 9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô.

10 Nhưng nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.

11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

2/ Phúc Âm: 1 Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng.

2 Đức Giê-su đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác sao?

3 Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.

4 Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao?

5 Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy."

6 Rồi Đức Giê-su kể dụ ngôn này: "Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, 7 nên bảo người làm vườn: "Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?

8 Nhưng người làm vườn đáp: "Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. 9 May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi."


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải biết sống thế nào để sinh ích lợi cho mình và cho tha nhân.

Làm việc gì ai cũng muốn có kết quả tốt; nếu không, họ sẽ ngưng không làm nữa. Ví dụ, nhà nông sẽ không trồng hay giữ lại những cây mà không đem lại lợi tức; người thương gia sẽ không giữ những món hàng mà không có ai hay ít người mua; người chủ sẽ không giữ để phải trả tiền lương cho những người thợ không mang lợi tức về cho công ty. Trong lãnh vực tâm linh cũng thế, Thiên Chúa đòi con người phải sinh lợi ích cho Ngài, cho tha nhân, và cho bản thân. Ngài sẽ cho con người nhiều cơ hội để sinh lợi ích, nhưng sẽ lấy đi nếu con người không sinh ích lợi.

Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong câu hỏi con người phải biết sống thế nào để sinh ích lợi cho mình và cho Nước của Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô vạch ra hai lối sống hoàn toàn trái ngược nhau: một lối sống theo xác thịt sẽ đưa con người dần dần đến cái chết và một lối sống theo Thánh Thần sẽ làm cho con người sinh hoa trái và dẫn đến cuộc sống đời đời. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu khuyên khán giả đừng lo việc xét đoán người khác để tìm ra lý do của đau khổ; nhưng tốt hơn nên biết thường xuyên xét mình, để biết hoán cải và biết sinh lợi ích cho mình và cho tha nhân.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Hai lối sống theo xác thịt và theo Thánh Thần

Theo thần học thân thể của Phaolô, con người không đứng riêng lẻ một mình, nhưng trong sự liên hệ với Thiên Chúa và tha nhân. Như con người có liên hệ với Adam trong tội nguyên tổ và sự chết, con người cũng có liên hệ với Đức Kitô trong ân sủng và sự sống đời đời. Như hậu quả của tội làm cho con người phải chết như Adam, hậu quả của ân sủng làm cho con người được sống lại với Đức Kitô.

1.1/ Lối sống theo xác thịt:

(1) Từ ngữ xác thịt được xử dụng theo Phaolô: Phaolô dùng chữ xác thịt (sark) để chỉ theo nghĩa đen là thân xác con người như việc cắt bì (Rom 2:28). Phaolô cũng dùng để chỉ theo nghĩa bóng: sống theo xác thịt là sống theo tiêu chuẩn của con người (Rom 7:5). Lối sống theo xác thịt không chỉ bao gồm tội ham muốn xác thịt, nhưng còn mở rộng đến mọi tội khác như: thờ bụt thần, ghen tị, tranh chấp... (Gal 5:19-21).

(2) Hậu quả của lối sống theo xác thịt: Như đã thảo luận trong chương 7, con người không có sức mạnh để chống lại tội lỗi; và hậu quả của tội là con người phải lãnh nhận cái chết. Thánh Phaolô lặp lại điều này trong trình thuật hôm nay: "Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được."

1.2/ Lối sống theo Thánh Thần:

(1) Từ ngữ Thánh Thần được xử dụng theo Phaolô: Theo truyền thống Do-thái, họ chỉ có một chữ (pneuma) để chỉ gió, hơi thở, tinh thần và năng lực của con người. Theo Phaolô, tinh thần này ám chỉ năng lực, đời sống thần linh, hay Thánh Thần của Thiên Chúa. Khi con người sống theo Thánh Thần, con người vâng theo theo sự dạy dỗ của Ba Ngôi Thiên Chúa.

(2) Hậu quả của lối sống theo Thánh Thần: sẽ dẫn tới bình an và sự sống vì có sức mạnh làm cho con người trở nên công chính. Phaolô xác tín: "Nếu Thánh Thần ngự trong anh em, Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thánh Thần của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới."

2/ Phúc Âm: Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.

2.1/ Con người phải năng xét mình để biết ăn năn xám hối: Đâu là sự liên quan giữa đau khổ và tội lỗi? Có 2 cách nhìn: của thế gian và của Thiên Chúa. Theo cách nhìn của thế gian: đau khổ phải chịu là do tội lỗi gây lên, “Ác giả ác báo, tội càng lớn đau khổ càng nhiều.” Theo cách nhìn của Thiên Chúa: đau khổ có thể không do tội lỗi. Chẳng hạn, có người hy sinh chịu đau khổ cho người khác được sống (Chúa Giêsu), hay để vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện (ví dụ ông Job hay người mù từ lúc mới sinh trong chương 9 của Tin Mừng Gioan). Chúa Giêsu dẫn chứng 2 ví dụ:

(1) Những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Chúa Giêsu hỏi khán giả: “Các ông tưởng mấy người Galilê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.” Truyền thống Do-thái tin những người này bị Philatô giết chết vì họ chống lại việc Philatô lấy thuế của Đền Thờ để làm hệ thống nước cho dân thành Jerusalem.

(2) Mười tám người bị tháp Siloam đổ xuống đè chết. Chúa Giêsu cũng đặt câu hỏi cho khán giả: “Các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Jerusalem sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.”

Điều quan trọng Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là thay vì tranh luận tìm ra sự liên hệ giữa đau khổ và tội lỗi, con người nên nhìn vào chính mình để nhận ra tội và ăn năn xám hối.

2.2/ Con người phải sinh hoa trái cho Thiên Chúa: “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: "Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất? Nhưng người làm vườn đáp: "Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi."”

(1) Mọi người đều được Thiên Chúa cho cơ hội như cây vả để sinh hoa kết trái. Nếu vây vả không sinh hoa kết trái, nó sẽ bị chặt để lấy chỗ cho cây khác để sinh lợi cho con người hơn. Con người cũng thế, nếu không sinh lợi ích như Thiên Chúa muốn, Ngài sẽ cất đi để cho người khác có cơ hội sinh lợi cho Ngài.

(2) Thiên Chúa cho con người nhiều cơ hội; nhưng nếu con người không biết lợi dụng, có thể là cơ hội cuối cùng. Thiên Chúa cũng kiên nhẫn chờ đợi để con người sinh hoa kết quả; nhưng nếu con người vẫn không sinh trái, Ngài sẽ chặt đi và lấy chỗ cho người khác để sinh trái cho Ngài.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta cần hiểu biết tường tận Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa và vai trò của mỗi người chúng ta trong Kế Họach này. Hãy làm trọn vai trò Ngài muốn chúng ta làm.

- Đừng ghen tị đòi làm những gì người khác làm, nhưng biết chu tòan ơn gọi Chúa ban, để cùng với mọi người, đưa Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa tới chỗ viên mãn.

- Đừng nhìn chung quanh để dò xét và kết án người khác, nhưng hãy tự xét mình để xem mình đã sinh hoa kết trái tương xứng với những hồng ân Thiên Chúa đã ban chưa?

Thứ Năm Tuần 29 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Năm Tuần 29 TN1, Năm lẻ

Bài đọc: Rom 6:19-23; Lk 12:49-53.

1/ Bài đọc I: 19 Ấy là tôi nói theo kiểu người phàm, hợp với tầm hiểu biết yếu kém của anh em. Trước đây, anh em đã dùng chi thể của mình mà làm những điều ô uế và sự vô luân, để trở thành vô luân, thì nay anh em cũng hãy dùng chi thể làm nô lệ sự công chính để trở nên thánh thiện.

20 Khi còn là nô lệ tội lỗi, anh em được tự do không phải làm điều công chính.

21 Bấy giờ anh em thu được kết quả nào, bởi làm những việc mà ngày nay anh em phải xấu hổ? Vì rốt cuộc những việc ấy đưa đến chỗ chết.

22 Nhưng giờ đây anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ của Thiên Chúa; anh em thu được kết quả là được trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời.

23 Thật vậy, lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết; còn ân huệ Thiên Chúa ban không, là sự sống đời đời trong Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

2/ Phúc Âm: 49 "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!

50 Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!

51 "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.

52 Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.

53 Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng."


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Hãy cố gắng nhận ra sự thật.

Cuộc đời có nhiều cái nghịch lý. Cái nghịch lý dại dột nhất trong cuộc đời là thay vì phải nhận ra và thương yêu những người đã hy sinh vất vả cả cuộc đời để nuôi nấng, dạy dỗ, và lo lắng tương lai cho mình; thì con người lại chạy theo những con người luôn rình chờ để lợi dụng, đầu độc, là phá hủy tương lai của mình. Tại sao cái nghịch lý này xảy ra? Lý do vì những kẻ đầu độc biết những gì con người thích: khoái lạc, dễ dãi, và những giá trị tạm thời.

Các Bài Đọc hôm nay mời gọi con người hãy cố gắng suy tư để nhìn ra sự thật và những ai yêu thương mình thực sự. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy biết so sánh để nhận ra sự thật và tình yêu Thiên Chúa: Kẻ thù của Thiên Chúa luôn cám dỗ con người để họ làm nô lệ cho tội lỗi. Hậu quả là những xấu hổ dằn vặt lương tâm và cái chết đau thương muôn đời; trong khi Thiên Chúa luôn yêu thương, dạy dỗ, và làm mọi sự để cứu độ con người. Khi gởi Đức Kitô xuống trên trần gian, Ngài sẵn sàng tha tội và ban mọi ơn lành để con người có sức mạnh thoát khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và sống công chính theo đường lối Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nói với các môn đệ ý muốn của Ngài cho con người: Ngài mang lửa của tình yêu, của sự thật, và của bình an đến cho con người; nhưng họ phải đón nhận thì mới mang lại kết quả được.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Hãy biết so sánh để làm theo những gì Chúa dạy.

Thánh Phaolô muốn con người nhận ra hai điều chính trong trình thuật hôm nay:

 

1.1/ Con người có khả năng thắng vượt tội lỗi: Trước khi Đức Kitô đến, con người không có sức mạnh để thắng vượt tội lỗi, dù Lề Luật giúp con người nhận ra tội lỗi; nhưng khi Đức Kitô đến, Ngài trang bị cho con người ơn thánh đủ để con người chống lại tội lỗi. Thánh Phaolô diễn tả tư tưởng này như sau: "Trước đây, anh em đã dùng chi thể của mình mà làm những điều ô uế và sự vô luân, để trở thành vô luân, thì nay anh em cũng hãy dùng chi thể làm nô lệ sự công chính để trở nên thánh thiện. Khi còn là nô lệ tội lỗi, anh em được tự do không phải làm điều công chính." Nếu Đức Kitô đã giúp con người có thể thắng vượt tội lỗi để sống công chính, tại sao con người không biết lợi dụng cơ hội để thoát khỏi kiếp nô lệ cho tội lỗi?

 

1.2/ Hậu quả của hai lối sống: Để có thể lựa chọn cách khôn ngoan, con người cần nhận ra hậu quả của mỗi lựa chọn. Thánh Phaolô giúp các tín hữu nhận ra hậu quả của hai lối sống: "Nhưng giờ đây anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ của Thiên Chúa; anh em thu được kết quả là được trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời. Thật vậy, lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta, là cái chết; còn ân huệ Thiên Chúa ban không, là sự sống đời đời trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta."

(1) Lối sống theo tội lỗi: là bị xấu hổ và bị chết: "Bấy giờ anh em thu được kết quả nào, bởi làm những việc mà ngày nay anh em phải xấu hổ? Vì rốt cuộc những việc ấy đưa đến chỗ chết." Khi phạm tội, con người cảm thấy xấu hổ với Thiên Chúa và với tha nhân: với Thiên Chúa, vì con người đã bất tuân những gì Ngài dạy; với tha nhân, vì con người đã xúc phạm đến họ cách này hay cách khác. Nguy hiểm nhất của tội là nó đưa dần con người đến cái chết. Thánh Phaolô gọi cái chết là lương bổng của tội; vì khi con người làm việc gì, họ sẽ được trả lương tương xứng với việc họ làm.

(2) Lối sống theo sự công chính: sẽ giúp con người được trở nên thánh thiện và được sống đời đời. Lợi ích khi con người sống thánh thiện là họ sẽ không ngại ngùng xấu hổ khi tiếp xúc với Thiên Chúa hay tha nhân, vì họ chẳng có gì phải dấu diếm hay sợ sệt. Lợi ích trên hết là giúp con người đạt đến cuộc sống đời đời. Thánh Phaolô gọi cuộc sống đời đời là của Thiên Chúa ban cho con người nhờ công trạng của Đức Kitô.

2/ Phúc Âm: Sống theo tình yêu và sự thật sẽ giúp con người có bình an thực sự.

 

2.1/ “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” Lửa có ít nhất 3 công dụng: soi sáng, thanh tẩy (luyện kim), và sưởi ấm.

- Chúa Giêsu soi sáng con người bằng Lời Chúa;

- Sống Lời Chúa sẽ giúp con người thanh tẩy tất cả sai trái và tật xấu trong tâm hồn;

- Cảm nghiệm được tình thương Thiên Chúa sẽ giúp con người có sức mạnh xóa tan đi những hố sâu chia rẽ và sưởi ấm lại tình người.

Lửa mà Chúa Giêsu đã ném vào mặt đất mà muốn cho bùng lên là Sự Thật và Tình Yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói tiếp: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” Phép Rửa Chúa Giêsu đề cập đến ở đây chính là Phép Rửa bằng Máu, là Cuộc Thương Khó của Ngài. Phép Rửa này chỉ hòan tất khi Ngài giang tay chết trên Thập Giá để chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.

 

2.2/ Thầy đến để đem sự chia rẽ? Lời tuyên bố của Chúa Giêsu sẽ làm không ít người ngạc nhiên: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban bình an cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ.” Nhiều người sẽ hỏi: “Tại sao Thiên Chúa của bình an lại đem chia rẽ?”

Bình an của Thiên Chúa khác với bình an của con người và cách để có bình an của Thiên Chúa cũng khác với cách của con người. Bình an của trái đất là bình an giả tạo vì đặt trên những hiểu biết của con người; và chiến tranh có thể tái phát bất cứ lúc nào nếu có sự xung đột giữa những hiểu biết của con người. Thiên Chúa ban bình an cho con người không theo kiểu của thế gian: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Jn 14:27). Bình an của Thiên Chúa chỉ thực sự có được khi mọi người nhận ra sự thật trong Mầu Nhiệm Cứu Độ và tình thương của Thiên Chúa dành cho con người.

Vì sự thật của Thiên Chúa khác với sự thật của con người nên những lời dạy của Chúa Giêsu sẽ tạo nên sự chia rẽ: có những người tin vào Lời Chúa giảng dạy như các Tông Đồ và môn đệ; có những người sẽ phản đối và không tin như một số Kinh-sư, Biệt-phái, và Luật-sĩ. Hậu quả là họ tìm cách để tiêu diệt Chúa và các Tông Đồ. Cũng vậy, khi Lời Chúa được gieo trong cùng một mái nhà: sẽ có những người trong gia đình tin; sẽ có những người không tin. Hậu quả là gia đình sẽ chia rẽ. Nhưng nếu mọi người trong gia đình đều nhận ra sự thật và tin vào Lời Chúa, lúc ấy gia đình mới thực sự có bình an, và không một quyền lực nào có thể phá tan sự bình an đích thực này.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

 

- Chúng ta có khả năng dứt bỏ tội lỗi và sống công chính theo đường lối của Thiên Chúa. Hãy cố gắng thực hành Lời Chúa và năng lãnh nhận sức mạnh Chúa ban qua các Bí-tích.

- Đức Kitô là nguồn mạch bình an. Ngài đến để hòa giải con người với nhau và với Thiên Chúa. Sự hiểu biết và tình yêu con người dành cho Đức Kitô sẽ giúp xóa tan mọi khác biệt và giúp con người hòa giải với nhau và trở nên một trong thân thể của Đức Kitô.

- Đức Kitô đã ném lửa của sự thật và của tình yêu vào trong trái đất và Ngài muốn làm cho lửa này cháy bùng lên. Để có bình an thực sự trên trong gia đình cũng như trên địa cầu, mọi người chúng ta cần cộng tác với Thiên Chúa bằng việc rao giảng Lời Sự Thật và mang tình yêu Thiên Chúa đến cho mọi người.

Save

Save

Thứ Sáu Tuần 29 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Sáu Tuần 29 TN, Năm lẻ

Bài đọc: Rom 7:18-25a; Lk 12:54-59.

1/ Bài đọc I: 18 Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không.

19 Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.

20 Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.

21 Bởi đó tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay.

22 Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa;

23 nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.

24 Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?

25 Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!
Như vậy, nếu theo lý trí, thì tôi làm nô lệ luật của Thiên Chúa; nhưng theo xác thịt, thì tôi làm nô lệ luật của tội.

2/ Phúc Âm: 54 Đức Giê-su cũng nói với đám đông rằng: "Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay: "Mưa đến nơi rồi", và xảy ra đúng như vậy.

55 Khi thấy gió nồm thổi, các người nói: "Trời sẽ oi bức", và xảy ra đúng như vậy.

56 Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét?

57 "Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải?

58 Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục.

59 Tôi bảo cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng."


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải biết suy xét cho chín chắn để tìm ra sự thật.

Trên hành trình đi tìm sự thật, con người có thể dùng nhiều cách khác nhau. Con người có thể dùng lý luận, dựa vào điều đã biết để tìm ra điều chưa biết. Con người có thể dùng kinh nghiệm, những gì đã xảy ra trong những hoàn cảnh tương tự, chắc chắn sẽ xảy ra cho lần tới. Con người có thể tin vào những gì Thiên Chúa dạy qua các nhà lãnh đạo và các tiên tri. Hay có thể dùng tổng hợp của tất cả các cách.

Các Bài Đọc hôm nay mời gọi con người hãy biết suy xét để tìm ra sự thật và tin theo. Trong Bài Đọc I, dựa vào lý luận và kinh nghiệm cá nhân, Phaolô muốn chứng minh cho người Do-thái biết Lề Luật không có sức mạnh để thúc đẩy con người làm điều thiện và giải thoát con người khỏi tội; đó là lý do họ phải tin Thiên Chúa gởi Đức Kitô đến để giải thoát con người khỏi tội, và giúp con người có sức mạnh vượt thắng tội lỗi. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nói với các khán giả của Ngài: nếu trí khôn và kinh nghiệm có thể giúp họ nhận ra những hiện tượng trong trời đất; chúng cũng có thể giúp họ nhận ra những điều tốt xấu trong lãnh vực luân lý mà họ phải thi hành. Nếu họ không chịu suy xét để nhận ra và hành động, họ sẽ phải lãnh nhận mọi hậu quả của hành động của họ.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Lề Luật giúp con người biết thiện, biết ác; nhưng không cho sức mạnh để làm.

1.1/ Con người có thể nhận ra đâu là thiện, ác: Để hiểu lý luận của Phaolô, chúng ta cần hiểu lý luận của người Do-thái. Đối với họ, Lề Luật của Thiên Chúa đủ để giải thoát và làm cho con người được cứu độ. Đối với thánh Phaolô, Lề Luật chỉ giúp con người phân biệt giữa thiện và ác, chứ không cung cấp cho con người sức mạnh để làm.

Phaolô dùng lý luận và kinh nghiệm để thuyết phục những người Do-thái như sau: "Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Bởi đó tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay."

1.2/ Con người có thể muốn, nhưng không có khả năng làm điều thiện: Theo kinh nghiệm, từ chỗ biết đến chỗ làm là điều không dễ: có những người biết rất nhiều, nhưng không bao giờ chịu hành động theo những gì họ biết; nhiều khi còn hành động hoàn toàn ngược lại. Thánh Phaolô diễn tả sự giằng co này như sau: "Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi. Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?" Chính Đức Kitô cũng đề phòng các môn đệ của Ngài về sự nguy hiểm của xác thịt và việc cần phải tỉnh thức: "Tinh thần thì mau mắn; nhưng xác thịt thì nặng nề."

Để giúp con người làm lành tránh dữ, con người không chỉ dựa vào Lề Luật; nhưng phải tin vào Đức Kitô, Đấng Thiên Chúa Cha gởi tới để giúp con người thoát khỏi cuộc chiến nội tâm này. Với Đức Kitô, con người có thể làm lành tránh ác như Phaolô tuyên bố: "Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!" Phaolô không giải thích chi tiết làm sao Đức Kitô giúp con người tránh tội và sống công chính trong trình thuật hôm nay; nhưng trong chương 8 kế tiếp, Phaolô so sánh về cuộc sống theo xác thịt và cuộc sống theo ân sủng của Thánh Thần. Truyền thống của Giáo Hội cũng nhấn mạnh tới cuộc sống nhân đức có được do ân sủng của Thiên Chúa và sự chế ngự xác thịt của con người sẽ giúp các tín hữu tránh tội và sống công chính.

2/ Phúc Âm: Phải biết dùng trí khôn để tìm ra sự thật.

2.1/ Kiến thức về thời tiết: Cha ông chúng ta ngày xưa, tuy không có các dụng cụ dùng để tiên đoán thời tiết như chúng ta ngày nay, biết dùng kinh nghiệm để tiên đoán thời tiết; và lưu truyền cho con cháu bằng những câu thơ đơn giản, dễ hiểu, và dễ nhớ. Chẳng hạn: “Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy,Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi.” Ý nghĩa: Khi thấy mây đen kéo tới từ phía Đông của Việt Nam, nghĩa là từ Biển Nam Hải đi tới, là chắc chắn sẽ có mưa. Vì thế, phải chạy cho nhanh chóng kẻo bị ướt; nhưng khi thấy mây đen kéo tới từ phía Nam, thì sẽ không có mưa, cứ việc thong thả làm hay chơi.

Đức Giêsu cũng dùng kinh nghiệm như thế khi nói với đám đông rằng: "Khi các người thấy mây kéo lên ở phía Tây, các người nói ngay: "Mưa đến nơi rồi," và xảy ra đúng như vậy. Khi thấy gió Nồm thổi, các người nói: "Trời sẽ oi bức," và xảy ra đúng như vậy. Ý nghĩa: Khi mây đen kéo tới từ phía Tây của Do-Thái, nghĩa là từ Biển Mediterranean đưa tới, là chắc chắn sẽ có mưa; khi gió Nồm (gió từ phía Nam) thổi tới là trời sẽ oi bức, vì thổi qua sa mạc.

2.2/ Kiến thức về thời gian: Vào thời đại của Chúa Giêsu, mọi người đều trông đợi Đấng Thiên Sai tới để giải phóng dân tộc. Theo các Sách Tiên Tri, Thiên Chúa sẽ cho những dấu để dân nhận biết khi nào Đấng Thiên Sai tới; chẳng hạn, theo Sách Tiên tri Isaiah: “Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân” (Isa 61:1). Nhưng khi Chúa Giêsu nhắc cho họ biết, chính Ngài là Đấng tiên tri Isaiah đã loan báo (Lc 4:21), họ vẫn không tin vào Ngài. Đó là lý do tại sao hôm nay Chúa trách họ: “Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét?”

2.3/ Dùng kiến thức tâm lý để chuẩn bị cuộc sống tương lai: Để chuẩn bị đối diện với sự công bằng của Thiên Chúa trong Ngày Phán Xét, Chúa trưng dẫn một ví dụ về kiện cáo mà con người vẫn thường làm: “Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục. Tôi bảo cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.” Ý nghĩa: công bằng là phải trả cho người khác những gì thuộc về họ. Nếu đã đối xử bất công với người khác thì hãy đền trả họ càng sớm càng tốt; nếu không, sẽ phải đền trả nơi tòa án và sẽ phải chịu tù đày nữa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Con người là con vật biết suy xét: biết dùng kinh nghiệm quá khứ để rút ra kinh nghiệm sống cho hiện tại; đồng thời, biết dùng những gì xảy ra trong hiện tại để mưu ích cho tương lai. Chúng ta đừng vội tin những gì người khác nói khi chưa suy xét cẩn thận, và đừng để cho người khác hay thế gian điều khiển cuộc sống của chúng ta.

- Sau khi đã tìm ra sự thật, chúng ta phải có can đảm để sống theo và làm chứng cho sự thật, thì mới có thể sinh lợi ích cho chúng ta và cho mọi người.

- Chúng ta không thể tự mình tránh tội và sống công chính mà không có ơn thánh của Đức Kitô. Chúng ta phải năng lãnh nhận các bí-tích để có sức mạnh tránh tội và luyện tập nhân đức.

Save

Save

Thứ Tư Tuần 29 TN1

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Tư Tuần 29 TN1, Năm lẻ

Bài đọc: Rom 6:12-18, 20b-21; Lk 12:39-48.

1/ Bài đọc I: 12 Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa, khiến anh em phải nghe theo những dục vọng của thân xác.

13 Anh em đừng dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa. Trái lại, anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.

14 Tội lỗi sẽ không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng.

15 Vậy thì sao? Chúng ta cứ phạm tội ư, vì chúng ta không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng? Không đời nào!

16 Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục: hoặc làm nô lệ tội lỗi, thì sẽ phải chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa, thì sẽ được nên công chính.

17 Tạ ơn Thiên Chúa! Trước kia anh em làm nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em đã hết lòng vâng theo quy luật đạo lý đã đào tạo anh em.

18 Anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính.

20 Khi còn là nô lệ tội lỗi, anh em được tự do không phải làm điều công chính.

21 Bấy giờ anh em thu được kết quả nào, bởi làm những việc mà ngày nay anh em phải xấu hổ? Vì rốt cuộc những việc ấy đưa đến chỗ chết.

2/ Phúc Âm: 39 Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu.

40 Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến."

41 Bấy giờ ông Phê-rô hỏi: "Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người? "

42 Chúa đáp: "Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc?

43 Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta.

44 Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình.

45 Nhưng nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: "Chủ ta còn lâu mới về", và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa,

46 chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín.

47 "Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều.

48 Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Biết thế nào, phải sống như vậy.

Các Bài Đọc hôm nay chú trọng đến việc thực hành những gì con người đã biết, để giúp con người sinh ích lợi trong đời sống. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô chú trọng đặc biệt đến hai tình trạng của con người trước và sau khi đón nhận Đức Kitô. Ngài khuyên các tín hữu phải biết sống thích hợp với ân sủng mà Đức Kitô đã mang lại cho các tín hữu qua Cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh vinh hiển của Ngài. Nếu cứ dìm mình trong tội như trong quá khứ, con người sẽ không được cứu độ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cũng đề phòng các tông-đồ: Các ông phải sống như những người quản gia trung tín trong việc phân phát Mầu Nhiệm Cứu Độ; nếu không, các ông sẽ bị trừng phạt nặng nề hơn những người không biết, khi Chúa trở lại để phán xét.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Anh em là nô lệ cho người mà anh em vâng phục.

 

1.1/ Người tín hữu phải đoạn tuyệt với tội lỗi: "Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa, khiến anh em phải nghe theo những dục vọng của thân xác. Anh em đừng dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều bất chính, phục vụ cho tội lỗi nữa. Trái lại, anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa."

(1) Tình trạng pháp lý của con người trước khi có và sau khi có Đức Kitô: Trước khi có Đức Kitô, con người hoàn toàn sống dưới Lề Luật, và làm nô lệ cho tội lỗi và sự chết. Con người không có sức để thoát ra khỏi sự nô lệ này. Khi Đức Kitô đến, Ngài giải thoát con người khỏi Lề Luật, tội lỗi, và sự chết. Con người, với sức mạnh của ơn thánh của Đức Kitô, có thể thoát ra khỏi những nô lệ này, để được tự do sống cho Thiên Chúa. Thánh Phaolô ví tình trạng của người tín hữu cũng giống như tình trạng của người nô lệ: khi còn sống dưới sự nô lệ của chủ, người nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn vào chủ và không có cơ hội nào để thoát ra khỏi kiếp nô lệ; nhưng khi được một người chuộc tiền để giải thoát, người nô lệ giờ đây được tự do sống cho chính mình. Người tín hữu cũng thế, một khi được Đức Kitô giải thoát, họ không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa; nhưng được tự do và được trang bị để sống cho Thiên Chúa.

(2) Tình trạng nội tâm của con người trước và sau khi có Đức Kitô: Trước khi có Đức Kitô, con người không có một sức mạnh nào để chống lại tội lỗi ngoài sức mạnh của Lề Luật bảo cho con người biết đó là tội, nhưng không giúp cho con người vượt thắng tội lỗi; nhưng khi Đức Kitô đến, Ngài ban ơn thánh cho con người để họ có thể vượt thắng tội lỗi. Thánh Phaolô xác tín: "Tội lỗi không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng."

Phaolô biết có người sẽ chất vấn "Vậy thì sao? Chúng ta cứ phạm tội ư, vì chúng ta không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng? Không đời nào!" Thánh Phaolô có ý nói với sự xuất hiện của Đức Kitô, tội lỗi và sự chết không có sức mạnh toàn quyền trên con người nữa; nhưng nếu con người từ chối lối sống theo ân sủng bằng cách cứ sống theo tội lỗi, con người sẽ không được cứu độ. Đây là tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã nhiều lần bàn qua.

 

1.2/ Hậu quả của hai lối sống: Thánh Phaolô cắt nghĩa: ''Anh em không biết sao? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục: hoặc làm nô lệ tội lỗi, thì sẽ phải chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa, thì sẽ được nên công chính.''

(1) Hậu quả của lối sống làm nô lệ cho tội lỗi: Khi còn sống dưới kiếp nô lệ cho Lề Luật và tội lỗi, con người không có sức mạnh để thoát ra khỏi tội và không có cách nào để trở nên công chính. Hậu quả là con người phải chết như Thiên Chúa đã phán với ông Moses, khi Ngài ban cho con người Thập Giới.

(2) Hậu quả của lối sống theo ân sủng: Nhưng nay, với sự xuất hiện của Đức Kitô anh em được công chính vì tin tưởng vào Ngài, được ban ân sủng để có thể sống thánh thiện, và được giải thoát khỏi chết muôn đời.

Một điều con người cần lưu ý là cho dù Đức Kitô đã đến để giải thoát, con người vẫn có tự do để chọn lựa hai lối sống. Nếu cứ dìm mình trong tội, con người sẽ có nguy cơ chết trong tội và xa lìa Thiên Chúa. Một ví dụ dẫn chứng: thuốc có thể giúp con người trị bệnh; nhưng bệnh nhân phải kiêng cữ thì mới có thể lành bệnh được. Nếu bệnh nhân ỷ đã có thuốc chữa, rồi cứ ăn uống bừa bãi, thuốc sẽ mất công hiệu, và bệnh sẽ trở nên nặng nề hơn.

2/ Phúc Âm: Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, sẽ bị đòn nhiều hơn.

2.1/ Ông chủ trao cơ nghiệp và quyền phân phát cho người quản gia: Người quản gia là người được ông chủ chọn; tuy ông có quyền trên các đầy tớ khác nhưng đối với chủ, ông vẫn là một đầy tớ. Nhiệm vụ của quản gia là coi sóc mọi sự trong nhà và mọi đầy tớ khi chủ vắng mặt; trong đó có nhiệm vụ cung cấp của ăn cho các gia nhân đúng giờ đúng lúc. Nhưng ai là quản gia trong câu truyện Chúa muốn nói ở đây?

Bấy giờ ông Phêrô hỏi: "Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?" Chúa đáp: “Vậy thì ai là người quản gia trung tín và khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc?” Câu trả lời của Chúa Giêsu muốn ám chỉ các Tông Đồ. Các ông là những người được Chúa Giêsu tin tưởng, huấn luyện, và sai đi để rao giảng Tin Mừng. Các ông phải chịu trách nhiệm với Chúa về những người mà Chúa sai các ông đến để rao giảng. Nhưng câu trả lời cũng có thể mở rộng đến các Kitô hữu vì họ cũng là những nhà lãnh đạo trong gia đình và cộng đoàn.

2.2/ Thái độ của người quản gia: Ông có thể rơi vào một trong 2 thái độ:

(1) Thái độ trung thành và phần thưởng: Người quản gia trung thành là người biết chu tòan nhiệm vụ của mình khi chủ có mặt cũng như lúc chủ vắng mặt. Vì thái độ luôn trung thành nên không lạ khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy. Chúa Giêsu khen: “Thật là phúc cho anh ta. Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình.” Ai trung thành trong việc nhỏ thì cũng sẽ trung thành trong việc lớn.

(2) Thái độ bất trung và hình phạt: Nhưng nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: "Chủ ta còn lâu mới về," và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa, chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín.

Và Chúa Giêsu tuyên án: Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

 

- Chúng ta đã được Đức Kitô thanh tẩy mọi tội lỗi và được trang bị để sống công chính; nên chúng ta cần phải đoạn tuyệt làm nô lệ cho tội lỗi, để được tự do sống công chính.

- Đức Kitô đã dạy chúng ta mọi điều, ngay cả cách thức chuẩn bị cho tương lai, chúng ta hãy nghe theo những gì Ngài dạy bảo và chuẩn bị cho tương xứng. Người tín hữu đã được dạy dỗ và cho nhiều, nếu không chịu làm theo ý Chúa, sẽ phải chịu phán xét nặng nề hơn.

Save

Save

Donation (credit card)

Thanks for your supporting.

Amount: