Trang Nhà

Thông Cáo

Lời Chúa Mỗi Ngày

Thứ Năm Tuần 4 TN

Xin Nhấn vào đây để nghe Bài Giảng hoặc tải xuống

 

Thứ Năm Tuần 4 TN

Bài đọc: Heb 12:18-19, 21-24; I Kgs 2:1-4, 10-12; Mk 6:7-13.

1/ Bài đọc I (năm lẻ): 18 Anh em đã chẳng tới một quả núi sờ thấy được, có lửa đang cháy, mây mù, bóng tối và giông tố,

19 có tiếng kèn vang dậy, và tiếng nói thét gầm, khiến những kẻ nghe phải van xin đừng để lời ấy thốt ra với họ nữa,

21 Cảnh tượng hãi hùng đến mức ông Mô-sê phải nói: Tôi kinh hoàng và run rẩy!

22 Nhưng anh em đã tới núi Xi-on, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui,

23 dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện.

24 Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giê-su và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu A-ben.

2/ Bài đọc I (năm chẵn): 1 Khi thấy mình đã gần đất xa trời, vua Đa-vít truyền dạy Sa-lô-môn con mình rằng:

2 "Cha sắp bước vào đoạn đường mà mọi người trên đời phải đi qua; con hãy can đảm lên và sống cho xứng bậc nam nhi.

3 Hãy tuân giữ các huấn lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của con, mà đi theo đường lối của Người, là giữ các giới răn, mệnh lệnh, luật pháp, và chỉ thị của Người, như đã ghi trong Luật Mô-sê. Như thế con sẽ thành công trong mọi việc con làm và trong mọi hướng con đi,

4 và ĐỨC CHÚA sẽ thực hiện lời Người đã phán với cha rằng: "Nếu con cái ngươi sống cho phải đạo là hết lòng hết dạ bước đi trung thực trước nhan Ta, thì ngươi sẽ không bao giờ thiếu người ngự trên ngai Ít-ra-en.

10 Vua Đa-vít đã an nghỉ với tổ tiên ông, và được chôn cất trong Thành vua Đa-vít.

11 Thời gian vua Đa-vít trị vì Ít-ra-en là bốn mươi năm: vua trị vì tại Khép-rôn bảy năm và tại Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.

12 Vua Sa-lô-môn ngự trên ngai vua Đa-vít, thân phụ ông, và vương quyền của ông thật là vững chắc.

3/ Phúc Âm: 7 Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ.

8 Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng;

9 được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.

10 Người bảo các ông: "Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi.

11 Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ."

12 Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối.

13 Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.


 

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Vâng lời những gì Thiên Chúa dạy sẽ mang lại những kết quả lớn lao.

Để một người có thể hy sinh chấp nhận gian khổ, anh cần có một lý tưởng để theo đuổi. Chẳng hạn, người nhà nông sẵn sàng chấp nhận gian khổ nắng mưa, vì biết mùa gặt sẽ đến; hay người học sinh chấp nhận hy sinh các thú vui để rèn luyện sách đèn, vì biết sẽ có ngày ra trường thành tài.

Các Bài Đọc hôm nay xoay quanh đích điểm cuộc đời của người Kitô hữu. Trong Bài Đọc I, năm lẻ, tác-giả Thư Do-thái nhắc nhở các tín hữu ngày được dự hội vui với Thiên Chúa, Đức Kitô, các thiên thần, các tổ-phụ, và các Kitô hữu khác trong thành Jerusalem trên trời. Trong Bài đọc I, năm chẵn, vua cha David, sau khi đã trải qua mọi sự trong cuộc đời, muốn truyền lại cho con là Solomon hai điều: kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ những gì Ngài dạy. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu sai Nhóm Mười Hai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài dặn các ông đừng chú trọng quá nhiều đến của cải vật chất và lợi lộc trần gian, để có nhiều thời giờ cho việc rao giảng Tin Mừng và chữa lành con người.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I (năm lẻ): Sự khác biệt giữa 2 Giao Ước Cũ và Mới

1.1/ Giao Ước Cũ trên Núi Sinai: Tác-giả nhắc lại sự kiện Thiên Chúa gặp gỡ dân trên Núi Sinai (Exo 19:16-23) “Anh em đã chẳng tới một quả núi sờ thấy được, có lửa đang cháy, mây mù, bóng tối và giông tố, có tiếng kèn vang dậy, và tiếng nói thét gầm, khiến những kẻ nghe phải van xin đừng để lời ấy thốt ra với họ nữa. Cảnh tượng hãi hùng đến mức ông Moses phải nói: Tôi kinh hoàng và run rẩy!”

(1) Thiên Chúa tỏ uy quyền trên con người: Một sự khác biệt vô cùng lớn lao giữa Thiên Chúa và con người: Ngài quá uy quyền và thánh thiện trong khi con người quá nhỏ bé, yếu đuối, và tội lỗi.

(2) Thiên Chúa cách biệt với con người: Ai nhìn thấy hay tới gần Thiên Chúa, kẻ đó sẽ phải chết. Ngài chỉ nói với con người qua người trung gian là Moses. Ngài đã trao cho con người Thập Giới và truyền phải thi hành.

(3) Thiên Chúa làm con người phải kinh hoàng và sợ hãi: Họ không thể nhìn uy quyền của Thiên Chúa và nghe tiếng của Ngài.

1.2/ Giao Ước Mới trên Núi Sion: “Nhưng anh em đã tới Núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Jerusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng Vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Abel.”

(1) Gia đình của Thiên Chúa là thành Jerusalem trên trời: Núi Sion là kinh thành của Đức Đại Vương. Tác giả liệt kê các thành phần của gia đình Thiên Chúa: Các thiên thần là những sứ giả của Thiên Chúa, đêm ngày họ không ngừng ca tụng vinh quang của Ngài. Các con đầu lòng của Thiên Chúa là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Con đầu lòng là người được thừa hưởng gia tài của người cha. Thường thường, danh hiệu này dùng ở số ít để chỉ tước hiệu đặc biệt của Chúa Giêsu: Người là Trưởng Tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo (Col 1:15). Người là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự, Người đứng hàng đầu (Col 1:18). Tác giả dùng danh hiệu ở số nhiều, có thể để ám chỉ những người công chính của Cựu Ước mà tác giả đã đề cập đến trong chương 11, những người mà đã được thừa hưởng những lời hứa chúc lành (Heb 6:12). Các linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện: tất cả những người Kitô hữu khác.

(2) Thiên Chúa ở với con người: Chúa Giêsu là trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Ngài bắt đầu Giao Ước Mới và làm cho con người được hoà giải với Thiên Chúa. Ngài vừa là Thượng Tế, vừa là Lễ Hy Sinh toàn hảo. Chính vì thế, Ngài làm cho mối liên hệ hai bên được tiến lại gần nhờ máu của Người đổ ra trên Thập Giá.

(3) Thiên Chúa yêu thương: Ngài sẵn sàng hy sinh Người Con đổ máu để chuộc tội cho con người. Tác giả so sánh máu của Abel và máu của Chúa Giêsu. Máu của Abel kêu gọi sự báo thù (Gen 4:10); máu của Chúa Giêsu mang tha thứ mọi tội và mang con người tới Thiên Chúa (Heb 10:19). Sự hy sinh của Ngài là lý do tại sao con người được chung hưởng vinh quang với Thiên Chúa.

2/ Bài đọc I (năm chẵn): Hãy tuân giữ các huấn lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa của con.

2.1/ Phải biết kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ những gì Ngài dạy dỗ.

(1) Kinh nghiệm của cha mẹ là kho tàng khôn ngoan vô giá: Tục ngữ Việt-nam dạy: "Cá không ăn muối cá ươn; con cãi cha mẹ trăm đường con hư." Khi dạy những lời này, chắc chắn cha mẹ đã dùng những kinh nghiệm huy hoàng cũng như đau thương của mình, để truyền lại cho con cái, vì họ yêu thương con cái. Đọc trình thuật của vua David hơn tuần qua, một người nhận ra ngay vua David đã có quá nhiều kinh nghiệm thành công cũng như đau thương trong cuộc đời. Khi vua đi theo đường lối của Thiên Chúa, vua gặt hái được hết thành công này đến thành công khác. Khi vua lầm lẫn làm theo ý mình, biết bao đau thương đã xảy ra cho cá nhân, gia đình, và quốc gia. Giờ đây khi sắp từ giã cuộc đời, vua muốn truyền hết kinh nghiệm cho con mình là Solomon. Vua David hy vọng Solomon sẽ không lầm lẫn đi vào bước chân tội lỗi của vua; nhưng luôn biết kính sợ và vâng lời Thiên Chúa.

(2) Những thái độ hiểu biết sai lầm về những lời dạy dỗ của Thiên Chúa và của cha mẹ:

Nhiều người nông nổi cho rằng nếu làm theo những lời dạy dỗ này, họ sẽ bị hạ giá hay tự do của họ sẽ bị giới hạn; nhưng kinh nghiệm cho thấy nếu không làm theo, họ sẽ phải trả một giá đắt để học được kinh nghiệm của cha mẹ. Luật lệ của Thiên Chúa ban ra vì Ngài yêu thương và muốn bảo vệ con người. Có người ví luật lệ như hàng rào để bảo vệ con người khỏi những nguy hiểm từ bên ngoài đưa tới; nếu con người vượt ra ngoài hàng rào luật lệ, đau khổ và chết chóc sẽ xảy đến cho con người. Luật lệ của Thiên Chúa không giới hạn tự do của con người; nhưng bảo vệ và chỉ đường cho con người để đừng rơi vào bẫy của ma quỉ và làm nô lệ cho chúng.

2.2/ Tuân giữ những gì Thiên Chúa dạy sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp.

(1) Thành công trong mọi công việc: Thiên Chúa là Người duy nhất thấy được mọi sự tương lai; đó là lý do Ngài truyền cho con người những gì phải làm để bảo đảm thành công và tránh khỏi mọi nguy hiểm. Nếu con người chịu vâng lời Thiên Chúa, họ sẽ "thành công trong mọi việc họ làm và trong mọi hướng họ đi;" nhưng nếu họ cãi lời Thiên Chúa và làm những gì họ nghĩ, tai ương và đau khổ chắc chắn sẽ xảy ra, như đã từng xảy ra cho David và các nhân vật trong lịch sử. Trình thuật hôm nay kết thúc bằng câu "vua Solomon ngự trên ngai vua David, thân phụ ông, và vương quyền của ông thật là vững chắc," như một lời bảo đảm cho Solomon nếu ông theo lời vua cha và đi trong đường lối của Thiên Chúa.

(2) Lời hứa của Thiên Chúa sẽ không bao giờ vô hiệu: Đọc lịch sử Cựu Ước, Thiên Chúa đã làm nhiều giao ước với các tổ phụ và Ngài không bao giờ vi phạm. Trong giao ước với vua David, Thiên Chúa hứa: "Nếu con cái ngươi sống cho phải đạo là hết lòng hết dạ bước đi trung thực trước nhan Ta, thì ngươi sẽ không bao giờ thiếu người ngự trên ngai Israel." Giao ước thường bị vi phạm từ phía con người, qua việc họ không thi hành những gì Thiên Chúa truyền. Dù con người vi phạm nhiều lần, tình thương Thiên Chúa vẫn thắng vượt tội lỗi con người, Ngài tìm dịp để đưa con người ăn năn trở lại và giao ước được tiếp tục hiệu nghiệm.

3/ Phúc Âm: Chúa Giêsu sai Nhóm Mười Hai đi với 2 lời truyền:

3.1/ Hành trang mang theo trên đường rao giảng: “Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.”

Có nhiều cách giải nghĩa lệnh truyền này của Chúa, nhưng trọng tâm của lệnh truyền là các tông-đồ phải dành mọi thời gian và nỗ lực cho việc rao giảng Tin Mừng, chứ không quá quan tâm và lệ thuộc vào đời sống vật chất. Chúa Giêsu mời gọi các ông sống tin tưởng trong sự quan phòng của Thiên Chúa, vì “thợ làm việc xứng đáng được thưởng công.” Ngài sẽ lo liệu đời sống vật chất của các ông qua tình thương của những người được thấm nhuần Tin Mừng. Hơn nữa, nếu các ông không mang hành lý nặng, các ông sẽ dễ dàng lên đường đi đến mọi nơi cần được sai tới.

Cám dỗ về lợi lộc vật chất thường xuyên đe dọa những người rao giảng Tin Mừng. Nếu không biết chống trả, họ sẽ chỉ làm những việc gì mang lại lợi nhuận vật chất; chứ không rao giảng cách nhưng không như Chúa Giêsu đòi hỏi. Thay vì chú trọng đến phần rỗi linh hồn của đàn chiên, họ lại chú trọng đến lông chiên và thịt chiên. Khi người rao giảng bắt đầu chú trọng đến lợi nhuận vật chất, lời rao giảng của họ sẽ không còn hiệu quả nữa.

3.2/ Thái độ của người rao giảng: “Người bảo các ông: Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ."

Cùng một lối giải thích như trên, người tông-đồ được sai đi là cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng, chứ không để tìm hư danh, uy quyền, hay các lợi lộc vật chất. Nếu người tông-đồ nhắm đến những điều sau này, anh sẽ dễ nản chí và di chuyển đến những nơi có lợi lộc hơn. Về phía người được nghe Tin Mừng, họ phải mở lòng đón nhận và tiếp đãi những người làm việc cho Chúa, để cả người gieo và người gặt đều được vui mừng trong mùa gặt.

Những việc làm chính của các tông-đồ: (1) Rao giảng Tin Mừng và kêu gọi người ta ăn năn sám hối. (2) Trừ quỷ: Giúp con người thóat khỏi ảnh hưởng hay làm nô lệ cho ma quỉ, để sống đời sống thánh thiện theo tinh thần Phúc Âm đòi hỏi. (3) Xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh tật phần hồn cũng như phần xác.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

 

- Chúng ta có một lý tưởng cao cả để theo đuổi là được đoàn tụ với Thiên Chúa và các Kitô hữu khác trên trời trong Ngày Cánh Chung. Để đạt được lý tưởng này, chúng ta cần hy sinh để chấp nhận mọi gian khổ trong việc loan báo và sống Tin Mừng. Chúng ta không thể bắt cá hai tay: vừa muốn được chung hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa đời sau, vừa muốn tất cả các hưởng thụ đời này. Người muốn bắt cá hai tay có nguy hiểm sẽ mất tất cả.

- Lời của Thiên Chúa là đèn soi cho chúng ta tất cả những nguy hiểm của cuộc đời. Chúng ta đừng khinh thường để rồi bị sa vào những chước cám dỗ của ma quỉ và làm nô lệ cho tội lỗi. Kinh nghiệm của cha mẹ và những người đi trước là những bài học quí giá cho chúng ta học hỏi, để khỏi phải trả giá nặng nề như họ.